Thuốc trị bệnh rụng tóc từng vùng

07:29:21 - 30/03/2013 - quản trị

 Bệnh rụng tóc từng vùng, đặc trưng là những đám tóc rụng hình tròn, hình oval ở da đầu hoặc rụng lông ở những nơi khác như râu, lông mày… được xếp vào nhóm bệnh tự miễn và có tỉ lệ mắc bệnh khá cao, Bệnh gặp cả ở hai giới, mọi lứa tuổi nhưng […]

 Bệnh rụng tóc từng vùng, đặc trưng là những đám tóc rụng hình tròn, hình oval ở da đầu hoặc rụng lông ở những nơi khác như râu, lông mày… được xếp vào nhóm bệnh tự miễn và có tỉ lệ mắc bệnh khá cao, Bệnh gặp cả ở hai giới, mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở người trẻ tuổi khoảng từ 15 – 45 tuổi,Vậy có cách nào để trị bệnh này?

bệnh rụng tóc từng vùng

bệnh rụng tóc từng vùng

Bệnh rụng tóc vùng có một số lượng lớn nang tóc thoái hóa được tìm thấy ở vùng trung tâm và vùng này lan rộng theo hướng ly tâm, tóc thoái triển rất nhanh từ pha phát triển sang pha quá độ, tiếp đó đến pha ngừng. Ở giai đoạn đầu có thâm nhiễm lympho, tổ chức bào xung quanh nang lông nhú bì, lympho T chiếm 90%. Các tổn thương cũ mất đi hành tóc chỉ còn dưới dạng xơ cứng trung bì thâm nhiễm các đại thực bào hắc tố và bao xung quanh bởi chất hyalin, các tế bào sắc tố và hạt sắc tố ra khỏi hành tóc và di cư đến nhú bì. Trong trường hợp bệnh kéo dài số lượng của nang lông có thể giảm và hoạt động của tuyến bã giảm xuống.

Điều trị : Mục đích điều trị là kích thích miễn dịch, điều hòa miễn dịch tại chỗ và toàn thân, kích thích mọc tóc và ngăn ngừa các yếu tố khởi động bệnh (bổ sung các yếu tố vi lượng, chống ổ nhiễm khuẩn, tránh stress..

Điều trị tại chỗ bằng cách gây sung huyết da

Làm sung huyết bởi kích thích tại chỗ, được hay dùng để điều trị Pelade khu trú là acid acetic trong dung dịch hoffmann, dầu cade trong vaseline, tuyết carbonic, anthraline 0,1%; 0,25%; 0,5%, 1% dưới dạng kem bôi 1 lần/ngày cho tới khi đạt được triệu chứng viêm da sẽ cho kết quả tốt trong điều trị Pelade nặng.

Corticoid liệu pháp

Corticoid đường toàn thân liều cao làm mọc tóc, nhưng sự mọc tóc này có nguy cơ rụng lại và rụng nhanh khi giảm liều và thuốc có rất nhiều tác dụng phụ toàn thân trong trường hợp sử dụng kéo dài. Nó chỉ được chỉ định trong các trường hợp ngoại lệ (sự thất bại của các phương pháp điều trị khác, ảnh hưởng tâm lý nặng nề). Do đó, thuốc ít được chỉ định.

Corticoid tại chỗ rồi băng kín hoặc bôi 2 lần/ngày. Kết quả thường thất bại trong những trường hợp lan rộng.

Tiêm dưới tổn thương triamcinolone acetonide có thể có hiệu quả trong những trường hợp khu trú. Điều trị bằng phương pháp này cần phải nhắc lại hằng tháng vì vậy có những tác dụng phụ không tránh khỏi (teo trung, thượng bì) và có nguy cơ bị mù trong những ca tiêm ở vùng thái dương và trán.

rung-toc-o-nam-gioi-do-thay-doi-noi-tiet-to

điều trị bệnh rụng tóc vùng

Liệu pháp miễn dịch

Dùng thuốc tại chỗ dinitrochlorobenzene với mục đích gây viêm da tiếp xúc, kích thích miễn dịch tại chỗ mặc dù có hiệu quả và tiện lợi nhưng cần thận trọng vì có thể gây ung thư mạnh. Squaric acid dibutylester tùy theo tuổi áp 3-4 lần/tuần cho đến ban đỏ rõ nhưng không gây phỏng nước…

Nickel sulfate 0,1-1% trong dầu; Diphencyprone, diphenylcyclopronanone (DPCN).

Dùng đường toàn thân: Cyclosporine A: Là một chất ức chế miễn dịch (ức chế TCD4) nếu dùng dạng bôi tại chỗ (dung dịch dầu 5% 2 lần / ngày trong 6 tháng) hiệu quả không tốt trong thực nghiệm cũng như trong nghiên cứu lâm sàng, nếu dạng uống phải dùng liều cao.

Minoxidil

Minoxidil là một chất gây giãn mạch máu ngoại vi, kích thích mọc tóc, đặc biệt tóc do hói. Thường dùng dung dịch 1-2%. Trong phần lớn các nghiên cứu, minoxidil có kết quả có ý nghĩa hơn so với placebo. Sự mọc tóc tơ xảy ra ở các thời hạn khác nhau (1 tháng đến 1 năm, trung bình 2-3 tháng).

Cơ chế tác dụng của minoxidil còn được biết rất ít, có lẽ nhiều yếu tố. Đến nay, người ta thấy minoxidil có đặc tính điều hòa miễn dịch (giảm có ý nghĩa cường độ thâm nhiễm viêm quanh nang lông và trong ống nghiệm có ức chế lympho trong tổ chức được kích thích), có tác dụng “dạng kích thích sinh trưởng thượng bì (EGF)” với hiệu quả tương đối đặc hiệu với nang lông và gây giãn mạch tại chỗ cũng được chỉ ra nhờ những nghiên cứu đo thể tích và đo thay đổi bằng laser doppler.

PUVA (Psoralene + Ultraviolet A): Ý tưởng đưa PUVA trị liệu vào điều trị Pelade đầu tiên dựa trên sự ghi nhận tăng lông tóc ở một số bệnh nhân vảy nến được điều trị bằng PUVA. Một số nghiên cứu cho thấy, với sự mọc lại tóc hơn 50% trường hợp. Liều toàn thể UVA cần thiết cho mọc tóc rất khác nhau (từ 135 – 550 J/cm 2 ). Trong một nghiên cứu, sự mọc tóc tơ được ghi nhận sau 30 lần chiếu, sự mọc tóc toàn bộ cần 50 lần chiếu.

Bạn có thể xem thêm:

loading...

Ý kiến bạn đọc

Bình luận qua Disqus Facebook

 

Close
LIKE để cùng chúng tôi chia sẻ
Những kiến thức về bệnh Rụng Tóc